Đăng thương hiệu

BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115

BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115
BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115

527 Sư Vạn Hạnh – Phường 12 – Quận 10 – Tp.HCM

(08) 3865 4249 – (08) 3865 5110

http://benhvien115.com.vn/

17112 lượt xem


Đánh giá

Tổng số điểm là 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá

Thông tin chi tiết

Viện Quân Y 115 giai đoạn 10/1976-12/1977
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới…. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua hướng về đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV - Đại hội năm đầu cả nước độc lập thống nhất, thực hiện công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trước mắt là khôi phục lại nền kinh tế, giải quyết hậu qủa chiến tranh, đẩy mạnh cải tạo quan hệ sản xuất, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh thì ở biên giới Tây Nam lại vang tiếng súng. Tập đoàn phản động Pôn pốt - Iêngxary đã gây ra cuộc chiến tranh xâm lấn lãnh thổ nước ta. Ngày 3 tháng 5 năm 1975, chúng cho quân đánh vào đảo Phú Quốc. Từ ngày 8 tháng 5 năm 1975, chúng liên tiếp đưa quân xâm phạm nhiều vùng biên giới từ Hà Tiên đến Tây Ninh, Gia Lai, Kon Tum và sau đó tấn công toàn tuyến biên giới Tây Nam. Chúng đốt nhà, cướp của, sát hại hàng trăm dân thường.
Trong bối cảnh đó các đơn vị quân đội nói chung và các quân y viện ở phía Nam nói riêng phải được xây dựng, phát triển phù hợp với yêu cầu mới - vừa giải quyết hậu qủa chiến tranh vừa phục vụ chiến trường Campuchia (chiến trường K).
Theo quyết định của Tổng cục Hậu cần, vào tháng 10 năm 1976, đổi tên Viện Quân y 52 thành Viện Quân y 115 thuộc Cục Quân y - Tổng cục Hậu cần, gồm K52, ĐT25 và được bổ sung thêm một số cán bộ, nhân viên từ Bắc vào (chủ yếu là của Viện Quân y 110 và 111).
Từ ngày đổi tên thành Viện Quân y 115 đến lúc chuyển sang Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, lịch sử của Viện được chia ra nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có những đặc điểm, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và kết qủa hoạt động nhất định.

Giai đoạn 10/1976 - 12/1977: Từng bước phấn đấu trở thành bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh
Viện Quân y 115 vốn là đơn vị hợp thành từ những đơn vị tiền thân. Cơ sở vật chất được tiếp nhận từ một bệnh viện của quân đội Sài Gòn đang xây dựng dở dang, nhà chưa có cửa, nền chưa lát gạch, các buồng bệnh chưa được ngăn, quạt không có,v.v…
Tiếp quản một bệnh viện như vậy thật khó khăn cho qúa trình thực hiện nhiệm vụ, nhưng với tinh thần của người chiến thắng, với truyền thống khắc phục khó khăn; đội ngũ cán bộ, bác sĩ, y tá của viện đã tận tình phục vụ cứu chữa hàng ngàn thương binh từ các đơn vị và chiến trường K chuyển về; có lúc phải điều trị cả bệnh nhân nặng.
Chỉ tiêu giường bệnh là 300, nhưng thực tế thương binh đưa về viện tăng lên rất nhiều, có đợt nhận đến 900 thương bệnh binh nằm la liệt ở hành lang.
Quân số của viện khoảng 240 người.
Viện trưởng, bác sĩ Trần Đại Thành ( là viện trưởng Viện Quân y 111 được Cục Quân y điều vào làm viện trưởng VQY 115 tháng 10 năm 1976)
Viện phó, bác sĩ Nguyễn Chí Lợi - phụ trách y vụ.
Viện phó, bác sĩ Trần Hiểu kiêm chủ nhiệm khoa nội Nhiễm (A4)
(Khi Viện Quân y 52 đổi tên thành Viện QY 115, các viện phó trước đây đều được đưa về làm chủ nhiệm khoa).
Tuy cơ sở vật chất thiếu thốn nhưng đội ngũ cán bộ, bác sy, y tá, nhân viên phục vụ đã khắc phục khó khăn, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu điều trị. Ngoài ra, viện còn đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chủ yếu tập trung vào các đề tài như sốt rét ác tính, xơ gan cổ chướng do hậu qủa chiến tranh, xử lý vết thương theo tuyến… Nhiều đề tài có gía trị và được áp dụng có hiệu qủa tốt trong điều trị.
Bệnh viện Nhân Dân 115

Ngày 10 tháng 01 năm 1978, tại cơ sở 520B Nguyễn Tri Phương- phường 21 (nay là phường 12 - quận 10), đại tá bác sĩ Nguyễn Sĩ Quốc, Cục trưởng Cục Quân y đã phổ biến quyết định 01/QĐH của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần ký ngày 03 tháng 01 năm 1978 về việc hợp nhất Viện Quân y 115 và Trường Trung học Quân y II thành một đầu mối trực thuộc Cục Quân y có tên gọi là Trường Trung học Quân y II (thực chất là chuyển từ bệnh viện thành trường).

Ban Giám hiệu nhà trường (trường và viện) lúc mới thành lập gồm các đồng chí:
* Bác sĩ Trần Đại Thành - Hiệu trưởng kiêm viện trưởng Viện QY 115
* Đồng chí Trương Cần - Chính ủy, Bí thư Đảng ủy

Một năm sau, bổ sung thêm 2 đồng chí:
* Bác sĩ Nguyễn Đào - Phó hiệu trưởng huấn luyện
* Bác sĩ Nguyễn Trân Châu - Phó hiệu trưởng điều trị (tháng 10/1978 bác sỹ Châu được điều từ VQY 175 về làm viện phó Viện Quân y 115)

Đảng uỷ của trường (Đảng bộ 3 cấp) trong thời gian này cơ bản vẫn giữ nguyên thành phần Đảng uỷ của Viện Quân y 115, đổi tên thành Đảng uỷ Trường Trung học Quân y II. Viện 115 giữ nguyên các khoa và y vụ, có Ban chỉ huy viện, không có Đảng uỷ viện.
Để lãnh đạo và quán triệt nhiệm vụ chính trị cho toàn Đảng bộ, ngày 17 tháng 5 năm 1978, Đảng uỷ họp hội nghị ra nghị quyết chuyên đề về công tác nhà trường trong đó nêu rõ: Từ nay (10-01- 1978) đơn vị lấy tên là TRƯỜNG TRUNG HỌC QUÂN Y II, thống nhất một Ban chỉ huy, một Đảng uỷ cơ sở, một đơn vị nhưng đồng thời tiến hành 2 nhiệm vụ chính:
* Huấn luyện đào tạo cán bộ kỹ thuật quân y trung cấp và sơ cấp cho các đơn vị ở phía Nam.
* Thu dung điều trị thương binh, bệnh binh cho tuyến trước với lưu lượng 350 giường.

Như vậy, nhiệm vụ của viện vừa phải điều trị thương bệnh binh, vừa làm cơ sở thực hành của trường. Điều kiện cơ sở vật chất hết sức nghèo nàn thiếu thốn, phải chuyển một số khu vực điều trị thành phòng giảng, phòng thực tập, một số bộ môn của trường vẫn nằm xen kẽ trong viện, xây dựng một loạt giảng đường ở từng khoa. Trong khi đó việc cứu chữa thương binh ở mặt trận biên giới Tây Nam càng nặng nề, vì cuộc chiến bước vào giai đoạn quyết định.
Để bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và giúp bạn trừ họa diệt chủng, các đơn vị bộ đội ta phối hợp cùng với lực lượng cách mạng của bạn đã chiến đấu anh dũng, đánh đuổi tập đoàn phản động Pônpốt-Iêngxary. Ngày 07 tháng 01 năm 1979 nhân dân Campuchia được giải phóng.

Năm 1978 - 1980 là thời kỳ Viện Quân y 115 phải triển khai cơ sở thu dung hàng loạt. Từ bệnh viện 200 giường với 2 khoa nội và một khoa ngoại chung, một chuyên khoa, mở rộng thành bệnh viện 350 giường với cơ cấu 100 bệnh binh và 250 thương binh, tỷ lệ 1/1.
Trong đợt phục vụ chiến dịch giải phóng Campuchia, thương binh tăng lên nhiều, vì thế trường đã điều động một số bác sĩ làm công tác huấn luyện để tổ chức một khoa ngoại, bảo đảm thu dung hết thương bệnh binh, có ngày lên đến 860 giường.

Ngoài nhiệm vụ làm bệnh viện thực hành cho Trường Trung học Quân y II (1978). Cục Quân y còn giao thêm nhiệm vụ nhận cả trọng thương. Lúc cao điểm, phải nhận thương binh Quân khu 9, một số thương binh phải chuyển ra miền Bắc. Tháng 11 năm 1979, Cục giao thêm nhiệm vụ làm bệnh viện thực hành cho cơ sở 2 của Đại học Quân y.

Bước sang năm 1979, có thuận lợi, bệnh viện tập trung vào khu nhà hình chữ E (nhà 2 tầng), liên hoàn khu trung tâm và các khoa. Được như vậy là nhờ có sự giúp đỡ tích cực của cấp trên, nhất là về cơ sở vật chất và xây dựng cơ bản, đồng thời bản thân đơn vị hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của Sở Kế hoạch Thành phố, Sở Xây dựng tỉnh Long An….

Do thương binh từ Campuchia về nhiều nên hoạt động của viện được tổ chức chuyển hướng thành bệnh viện thời chiến

Khối Ngoại:
* Ngoại 1 (B1- chấn thương), trưởng khoa bác sĩ Nguyễn Thanh Tâm
* Ngoại 2 (B2- ngoại bụng), trưởng khoa bác sĩ Lê Văn Nghĩa, bác sĩ Thưởng, bác sĩ Nguyễn Ngọc Đắc (Anh hùng LLVTND)
* Ngoại 3 (B3 - liên chuyên khoa) gồm: Tai-Mũi-Họngbác sĩ Trần Kim Thành, trưởng khoa. Mắt, bác sĩ Lý Kim Hùng, trưởng khoa. Răng-Hàm-Mặt, bác sĩ Lê Tương, trưởng khoa.
* Ngoại 4 (B4 - phòng mổ và cấp cứu hồi sức), trưởng khoa bác sỹ Hoàng An Nghĩa
* Khoa B6: thu dung và chuyển viện (triển khai khi lưu lượng thương binh cao, sau lại thôi).

Khối Nội:
* Nội tiêu hóa (A1), trưởng khoa bác sỹ Võ Thị Bửng
Nội tim mạch (A2), trưởng khoa bác sỹ Tô Ky, BS Nguyễn Văn Lân
* Nội thần kinh (A3), trưởng khoa y sỹ Bùi Tấn Khánh
* Nội nhiễm (A4), trưởng khoa bác sỹ Trần Hiểu

Khối cận lâm sàng:
* Dược, trưởng khoa dược sỹ Nguyễn Đắc Cường
* Xét nghiệm, trưởng khoa bác sỹ Tôn Nữ Trung Thu
* X quang, trưởng khoa bác sỹ Đặng Khắc Hoè
* Lý liệu, trưởng khoa bác sỹ Lê Thị Yến
* Phòng khám bệnh, trưởng khoa bác sỹ Nguyễn Hoàng Nam

Mở rộng nghiệp vụ "phòng khám bệnh". Tổ chức phòng khám bệnh để thu dung hàng loạt nhằm đáp ứng yêu cầu thời chiến. Bệnh viện có một tổ công tác phục vụ thu dung hàng loạt.

Tổ tiếp nhận nội viện:
Thu dung thương binh hàng loạt vào viện. Ban Y vụ, Phòng khám, Tài vụ, Hậu cần, Chính trị, hệ thống trực viện, trực ban, tùy mức độ thương binh về nhiều hay ít và y vụ điều động lực lượng, các khoa tham gia do thủ trưởng viện chủ trì.

Hệ thống trả bệnh cho tuyến:
Y vụ và nhân viên các khoa nội, chuyên khoa, chủ yếu là y vụ chuyển viện, trả Quân khu, Quân đoàn, đi Bắc. Công tác này làm thường xuyên, đi gần đi xa, đến cả Quân khu 5, Quân khu 9.

Thành tích nổi bật nhất trong hoạt động của viện trong thời kỳ 1978 - 1979 là tiếp nhận điều trị thương binh phục vụ giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, góp phần giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
Từ một cơ sở địch để lại, bệnh viện vừa tu sửa vừa phục vụ; các khoa lâm sàng, cận lâm sàng qúa thiếu thốn về trang thiết bị nhưng vẫn phải nhận một lượng thương bệnh binh quá lớn. Lúc đầu 200 giường lên 350 giường và thực tế là 860 - 900 thương bệnh binh/ngày và số nhân viên chỉ đạt 2/3 so với biên chế, nhưng may mắn là trong đà chiến thắng to lớn, anh chị em từ nhiều đơn vị ghép lại đã đoàn kết chặt chẽ làm song song 2 nhiệm vụ: Dạy học và điều trị thương bệnh binh với mức cố gắng cao nhất của mình, trong lúc điều kiện vật chất rất thiếu thốn mà không ai kêu ca gì.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Trung học Quân y II (trường và viện) lần thứ nhất, trong các ngày 14, 15 và 16 tháng 01 năm 1979. Đại hội đã thông qua nghị quyết lãnh đạo; phần nói về công tác điều trị, nghị quyết nêu rõ: Lấy mức thu dung tối đa 800 giường để chuẩn bị các mặt công tác, bảo đảm tỷ lệ ra viện hàng tháng đạt 50%. Huy động lực lượng kỹ thuật toàn Trường và Viện để tổ chức từng đợt điều trị đột kích nhằm giải phóng nhanh giường bệnh, kiên quyết không để ứ động thương binh bệnh binh.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Trường Trung học Quân y II (khoá I) nhiệm kỳ 1979 - 1980 gồm 11 đồng chí:
* Trương Cần Bí thư Đảng ủy
* Trần Đại Thành Phó bí thư
* Nguyễn Trân Châu Ủy viên
* Nguyễn Chí Lợi Ủy viên
* Nguyễn Đào Ủy viên
* Nguyễn Ngọc Đắc Ủy viên
* Trần Hiểu Ủy viên
* Lê Viết Kỳ Ủy viên
* Lê Văn Nghĩa Ủy viên
* Phạm Văn Sáo Ủy viên
* Hoàng Tước Ủy viên

Sau Đại hội Đảng, bộ máy tổ chức Trường - Viện được củng cố thêm một bước. Theo đề nghị của Đảng uỷ Trường, thủ trưởng Cục Quân y ra quyết định sắp xếp lại Ban Giám hiệu như sau:
* Bác sỹ Trần Đại Thành - Hiệu trưởng, (đầu năm 1981 bác sỹ Thành nghỉ hưu).
* Đồng chí Trương Cần - Chính ủy .
* Bác sỹ Nguyễn Trân Châu - Phó hiệu trưởng kiêm Viện trưởng Viện Quân y 115 (3-1979).
* Tháng 5 năm 1979, Trung tá Hà Thanh được Tổng cục Chính trị điều về làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy nhà trường (thay đồng chí Trương Cần chuyển ngành).

Thực hiện nghị quyết đại hội, Viện Quân y 115 đã sớm đi vào xây dựng theo phương hướng bệnh viện thực hành loại B, đáp ứng yêu cầu phục vụ giảng dạy thực hành cho nhà trường. Đặc biệt, trong năm 1979 số lượng thương binh về quá tải, vượt mức qui định thu dung, đội ngũ giáo viên của trường đã làm một phần việc ở các khoa ngoại và nhận trách nhiệm thành lập thêm khoa ngoại 6.

Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; công tác xây dựng đảng, đoàn luôn luôn được quan tâm và đã có những tiến bộ đáng kể. Phong trào đoàn viên đăng ký phấn đấu trở thành đảng viên được hưởng ứng sôi nổi, cùng với các phong trào khác, như xây dựng người đoàn viên mẫu mực, văn minh lịch sự, có trình độ chuyên môn giỏi, có phẩm chất đạo đức tốt để thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Công tác hậu cần tuy gặp nhiều khó khăn, số lượng thương bệnh binh tăng từ 150% - 300% so với số giường biên chế, nhưng những nhu cầu thiết yếu bảo đảm cho thương bệnh binh, cán bộ nhân viên của viện vẫn thực hiện tốt.

Do thành tích cứu chữa kịp thời thương bệnh binh với số lượng lớn (6.000 người) góp phần hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ tuyến biên giới Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc, tham gia làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, Viện Quân y 115 đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng III, vào ngày 9 tháng 7 năm 1979.

Tháng 4 năm 1980, Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng II cho Trường Trung học Quân y 2, trong đó nhờ sự đóng góp quan trọng của Viện Quân y 115, nhất là về mặt phục vụ chiến đấu.
Sau khi chiến tranh biên giới kết thúc, Viện Quân y 115 vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cứu chữa thương bệnh binh, góp phần giải quyết hậu qủa chiến tranh Campuchia; làm nhiệm vụ bệnh viện thực hành cho Trường Trung học và Cơ sở 2 của Đại học Quân y. Cơ sở vật chất tuy có khá hơn trước chút ít nhưng vẫn còn thiếu thốn nhiều. Trình độ chuyên môn của các khoa không đồng đều - Viện là một đơn vị hợp thành từ nhiều đơn vị khác mà nòng cốt là K52 và tăng cường cán bộ nhân viên từ các bệnh viện như Viện 5, 105, 110, 111, 104, QYV 7, một số đồng chí tu nghiệp ở Cộng hòa Dân chủ Đức, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về, lớp y tá trung cấp của Cục Quân y mới ra trường và một số đồng chí chuyên môn, hậu cần từ Bệnh viện Thống Nhất…. Trong khi đó, yêu cầu xây dựng bệnh viện ngày càng cao, đáp ứng nhiệm vụ của tuyến trước và sự phát triển của quân đội.

Nhận thức sâu sắc các đặc điểm trên, viện đã có những quan điểm và chủ trương: Xây dựng bệnh viện phát triển toàn diện, nhưng trọng tâm là chuyên môn, khoa học kỹ thuật. Ban lãnh đạo Viện luôn ý thức rằng: Là một bệnh viện nằm giữa thành phố, nếu biết học tập và tranh thủ sự giúp đỡ của các đơn vị bạn thì sẽ có nhiều thuận lợi. Lúc này, ngoài những mối quan hệ chính thức với đơn vị, nếu ai quen biết thì lấy uy tín của mình mà góp vào xây dựng Bệnh viện. Khi xây dựng, không chờ xong cái này rồi mới làm cái kia, cái gì vượt được thì cứ vượt, vươn lên được cái hiện đại thì cứ vươn, chứ không chờ đầy đủ rồi mới tiến lên. Nhờ những suy nghĩ ấy, trong 2 năm (1980, 1981), Bệnh viện đã đạt được những thành tích đáng kể về nghiên cứu khoa học, áp dụng cải tiến kỹ thuật trong điều trị và cải tiến công tác hậu cần, nâng cao đời sống thương bệnh binh, nhân viên. Vì thế, Đài truyền hình Thành phố đã chiếu phim phóng sự về thành tích Viện Quân y 115 kéo dài đến 20 phút.

Về nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật, cải tiến lề lối làm việc, có thể nói đây là thời kỳ hoàng kim của công tác nghiên cứu khoa học của Bệnh viện. Hầu hết các bác sĩ đều có đề tài nghiên cứu, nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, cải tiến lề lối làm việc đã áp dụng vào điều trị đưa lại hiệu qủa cao. Y sỹ, y tá cũng có đề tài nghiên cứu. Có thể kể tên một số đề tài như:
* Cải tiến công tác quản lý thuốc từ buồng bệnh đến kho lẻ trong khám bệnh kê đơn phát thuốc hàng ngày tại Viện Quân y 115, BS Nguyễn Trân Châu - BS Nguyễn Chí Lợi - DS Nguyễn Đắc Cường.
* Dùng cặn dầu tràm điều trị ghẻ và hắc lào cho bộ đội, BS Nguyễn Trân Châu - BS Giáp Mạnh Tường.
* Bước đầu cải tiến công tác quản lý ngày công lao động tại Viện Quân y 115, BS Nguyễn Chí Lợi - Nguyễn Công Rực.
* Sơ kết qua 55 trường hợp vết thương gãy xương đùi được điều trị bằng phương pháp kéo liên tục, BS Phan Thế Nghiệp
Vận dụng phương pháp cắt cụt sinh lý trong vết thương chiến tranh tại Viện Quân y 115, BS Nguyễn Thanh Tâm. Phương pháp này đã rút ngắn thời gian điều trị, hạn chế cắt sửa nhiều lần, giúp cho thương binh sử dụng chi giả sớm, giải quyết chính sách cho thương binh sớm.
* Dùng phương pháp nhỏ giọt tĩnh mạch để chụp đường gan mật, BS Đặng Khắc Hòe.
* Thông báo sản xuất và sử dụng viên nén Hoàng xuyên (hoàng đằng + xuyên tâm liên) tại Viện Quân y 115, DS Nguyễn Đắc Cường.
* Một vài kết qủa điều trị ở loại bệnh ít gặp nhưng đáng để chúng ta lưu ý, BS Nguyễn Trân Châu, như : Điều trị biến chứng túi thừa tá tràng ở bệnh nhân Nguyễn Thị Nội, hoặc phẫu thuật dò mang bẩm sinh vòng cổ ở bệnh nhân Nguyễn Bá Tỳ.
* Bàn xoay cấp phát thuốc (1981) của tập thể khoa Dược-Dược sỹ Đinh Thái Sơn, trưởng khoa. Sáng kiến này góp phần giảm bớt thời gian đi lại lấy thuốc ở kệ, bây giờ chỉ ngồi một chỗ phát thuốc. Trước đây phát cho một khoa 35 thương binh mất trung bình 25’-30’, nay chỉ mất từ 10’ - 15’. Đây là một kiểu bàn xoay được Viện 115 sử dụng đầu tiên tại thành phố cũng như ở Việt Nam lúc đó, sau này một số bệnh viện đến tham quan và làm để sử dụng.
* Kết qủa điều trị trĩ bằng tiêm dầu phenol 5%, BS Nguyễn Trân Châu - BS Hòang Văn Hòa - BS Trần Phương Hạnh
Vài ý kiến nhận xét điều trị mỏm cụt (1982) tại Viện Quân y 115 - theo quy trình cắt cụt, BS Nguyễn Hoàng Anh
* Sơ bộ nhận xét về tác dụng cầm máu tại chỗ sau cắt AMYDAL của dung dịch trắc bách diệp 100%, DS Nguyễn Đắc Cường và BS Trần Kim Thành.
* Xác định điểm ấn tức hố trên xương đòn để gây tê đám rối thần kinh cánh tay, BS Phạm Đăng Lư
* Kết qủa áp dụng thủ thuật phong bế thừng tinh để giảm đau trong cơn đau quặn thận, BS Trương Như Nguyện - BS Trần Phương Hạnh
* Một vài nhận xét trong 106 trường hợp vết thương ở chi do mìn, BS Nguyễn Chí Lợi và BS Hoàng Hòa
* Nhận xét bước đầu dùng nghệ chống phù nề và làm giảm đau trong ngoại khoa chấn thương (1982), BS Nguyễn Thanh Chơn, y tá Võ Thị Hoa và tập thể khoa Ngoại I - VQY 115.

Ngoài các đề tài nghiên cứu đã nêu còn rất nhiều các đề tài khác có giá trị...
Từ năm 1980 - 1985 có 68 báo cáo khoa học, các "thông báo, nhận xét" và các sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã in trong tạp chí NCKH của Viện. Nhờ những cố gắng và kết qủa đạt được về nghiên cứu khoa học, cải tiến quản lý ngày công lao động, quản lý dược… nên Cục Quân y có công văn đề nghị các đơn vị quân y phía Nam cử người về Viện 115 học tập kinh nghiệm. Quan điểm sản xuất dược phẩm ở khoa Dược thời kỳ này có thể được coi là những quan điểm mới: Tất cả các loại thuốc đã có các công ty Dược sản xuất thì Viện không sản xuất, vì giá thành cao, chất lượng không đảm bảo.

Công tác hậu cần được lãnh đạo Bệnh viện quan tâm, vì thế đời sống thương bệnh binh, nhân viên được cải thiện. Nhà ăn được củng cố gọn gàng sạch sẽ, bữa ăn được nâng lên một bậc (tiêu chuẩn đại táo nhưng chất lượng bữa ăn như tiêu chuẩn trung táo, trung táo như tiểu táo) do đổi mới công tác quản lý, cải tiến cách nấu nướng pha chế thức ăn. Bếp thương binh trước đây tháng nào cũng phải cấp thêm gạo, nhưng sau nhờ quản lý chặt nên gạo thừa thì bán để mua thức ăn thêm cho anh em. Bỏ buồng chứa thức ăn ở khoa vì luộm thuộm. Thương binh nhẹ xuống nhà ăn, thương binh nặng đưa cơm ăn tại giường. Việc phát lương được cải tiến, trước đây phát tại Ban Tài vụ, thương bệnh binh chờ đậu lâu, nay phát tại giường. Tranh thủ mời lớp quân nhu về thực tập để đẩy mạnh công tác hậu cần của viện.

Ngoài việc cải tiến nâng cao bữa ăn cho thương bệnh binh, việc xây dựng cơ sở vật chất, nhà cửa được Đảng ủy, Ban Chỉ huy thống nhất đề ra kế hoạch thực hiện. Bệnh viện tổ chức một bộ phận "chạy" vật liệu, để từng bước xây dựng nhà cửa. Vật liệu thời kỳ này rất khó khăn, vì nếu đơn vị không biết cách tự "chạy" thì thành phố không giải quyết mà lẽ ra phải thông qua cấp trên của đơn vị mình.
- Cơ cấu tổ chức của Viện có: Khoa Ngoại I, Ngoại II, Ngoại III (liên chuyên khoa), Ngoại IV (phòng mổ). Nội chung, Truyền nhiễm, Đông y, Dinh dưỡng, Dược, Xét nghiệm, X quang, Trang bị.
Tháng 3/1982, bác sỹ Nguyễn Chí Lợi, Viện phó Viện Quân y 115 được bổ nhiệm chức vụ Phó hiệu trưởng Trường Trung học Quân y II kiêm Viện trưởng Viện Quân y 115.
Bệnh viện Nhân Dân 115


Đây là giai đoạn bệnh viện hoàn chỉnh - có đảng ủy, có chỉ huy, có cơ quan, y vụ.
Để phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước nói chung và lực lượng quân đội nói riêng, ngày 01 tháng 01 năm 1982, Cục Quân y ra quyết định tách Trường Trung học Quân y II và Viện Quân y 115 thành 2 đơn vị độc lập trực thuộc Cục Quân y. Ngày 01 tháng 01 năm 1983 quyết định được chính thức thực hiện. Viện Quân y 115 nhanh chóng ổn định tổ chức, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, trong đó trọng tâm là điều trị. Đây là giai đoạn xây dựng bệnh viện hoàn chỉnh - Bệnh viện loại B đa khoa khu vực, thực hiện nhiệm vụ điều trị thương bệnh binh ở các đơn vị của Bộ đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực lân cận; góp phần giải quyết hậu qủa chiến tranh Campuchia; đồng thời làm nhiệm vụ bệnh viện thực hành cho Trường Trung học Quân y II và Cơ sở II của Đại học Quân y.

Cơ cấu tổ chức:
Sau khi tách khỏi Trường Trung học Quân y II, Viện tiếp tục được củng cố. Đại hội Đảng bộ Viện nhiệm kỳ 1983 - 1984 được tổ chức. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 7 đồng chí, trong đó có 3 đồng chí Ban thường vụ:
- Nguyễn Văn Hả - Bí thư
- Nguyễn Chí Lợi
- Đặng Văn Đễ

Và 4 đồng chí ủyviên BCH:
- Nguyễn Thanh Tâm
- Nguyễn Công Rực
- Trương Thị Hồng Lạc
- Hoàng Văn Hòa

Đảng bộ có 9 chi bộ với gần 90 đảng viên. Nghị quyết Đại hội đã nhấn mạnh các đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi con người, khi đất nước không còn chiến tranh. Những khó khăn của đời sống đang tác động đến từng người lính trong hiện tại cũng như tương lai. Vì thế, Đảng bộ cần phải lãnh đạo tư tưởng; giải quyết tốt công tác chính sách, để khi anh em trở về quê đỡ thiệt thòi. Đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ điều trị, tăng cường nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật, ngày càng đáp ứng yêu cầu cao trong công tác chuyên môn.

Ban Chỉ huy Viện (theo chế độ một thủ trương - viện trưởng), gồm:
- Bác sỹ Nguyễn Chí Lợi - Viện trưởng (thay BS Châu nghỉ hưu)
- Bác sỹ Nguyễn Thanh Tâm - Viện phó chuyên môn
- Đồng chí Nguyễn Văn Hả - Viện phó chính trị
- Đồng chí Đặng Văn Đễ - Viện pho hậu cần

Các Ban có:
- Ban Chính trị, viện phó chính trị kiêm
- Ban Y vụ, bác sỹ Nguyễn Công Rực, trưởng ban
- Ban Hành chính, đồng chí Nguyễn Văn Hựu, trưởng ban
- Ban Tài vụ, đồng chí Nguyễn Thị Thiệp, trưởng ban
- Ban Hậu cần, viện phó hậu cần kiêm

Các khoa lâm sàng: (các bác sỹ lần lượt giữ chức vụ trưởng khoa)
* Khoa Nội I (tiêu hóa,máu, nội tiết - A1), bác sỹ Võ Thị Bửng, bác sỹ Trương Thị Hồng Lạc, trưởng khoa
* Khoa Nội II (tim - thận - khớp - phổi thường - A2), bác sỹ Nguyễn Văn Lân, bác sỹ Trần Đức Trung, trưởng khoa
* Khoa Nội III (nội thần kinh - A3), bác sỹ Trần Ngọc Khánh, trưởng khoa
* Khoa Nội IV (truyền nhiễm - A4), bác sy Nguyễn Thị Ty, trưởng khoa
* Khoa Ngoại I (chấn thương - B1), bác sỹ Ngô Thanh Chơn, trưởng khoa
* Khoa Ngoại II (ngoại chung - B2), bác sỹ Hoàng Văn Hoà, trưởng khoa
* Khoa Ngoại III (liên chuyên khoa - B3); tai-mũi-họng: bác sỹ Trần Kim Thành; răng-hàm-mặt: bác sỹ Lê Tương; mắt: bác sỹ Lý Văn Hùng
* Khoa Ngoại IV (cấp cứu hồi sưc, phòng mổ - B4), bác sỹ Phạm Đăng Lư, trưởng khoa.

Cận lâm sàng:
* Xét nghiệm, bác sỹ Tôn Nữ Trung Thu, trưởng khoa
* Dược - Trang bị, dược sỹ Đinh Thái Sơn, trưởng khoa
* X quang, bác sỹ Đặng Khắc Hoè, trưởng khoa
* Vật lý trị liệu, bác sỹ Triệu Phách, trưởng khoa
* Đông y, bác sỹ Nguyễn Thế Dậu, trưởng khoa

Những năm 1982 - 1984, tuy biên giới Tây Nam không còn chiến tranh nhưng vẫn còn thương binh ở Campuchia đưa về. Vừa thực hiện công tác điều trị vừa phải kết hợp với việc giải quyết chính sách; cán bộ phụ trách chính sách luôn luôn cùng với cơ quan y vụ tiếp nhận thương binh. Từ lúc thương binh về viện, cán bộ phải kiểm tra, những thứ không được mang vào viện hoặc gây mất an toàn, như lựu đạn thì phải thu lại. Một số thương binh quê miền Bắc, đã điều trị khỏi nhưng không chịu ra viện. Mỗi lần anh em thương binh đi chơi phố thường quậy phá gây rối trật tự công cộng, nhiều lúc đơn vị phải cho xe, y tá ra động viên và đưa họ về. Viện phải duy trì sinh hoạt hội đồng thương bệnh binh đều, để động viên những gương người tốt, việc tốt, giải quyết kịp thời những tiêu cực. Trong từng bữa ăn của thương binh thường xuyên phải có cán bộ kiểm tra giám sát.
Công tác Đảng, công tác chính trị ở Viện lúc này chủ yếu làm tốt công tác chính sách. Phải làm chính xác, phải quan tâm giám sát, động viên thương bệnh binh, khỏi thì ra Viện để cho thương binh khác vào. Khi anh em tử vong, ban chính sách tổ chức chôn cất chu đáo. Công tác chính sách lúc này là quan trọng nhất, vì thương binh quậy phá. Cho nên, thực hiện chỉ tiêu điều trị (tỷ lệ ngày ra viện) chỉ thực hiện được đối với bệnh binh, còn thương binh có trường hợp ở lại 2 năm.

Ban chính trị thường xuyên tổ chức học tập chính trị cho cán bộ, nhân viên và thương bệnh binh; kết hợp văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Chế độ sinh hoạt Đảng được duy trì đều đặn, chặt chẽ. Khi có nghị quyết của Đảng ủy gửi xuống, các chi bộ sinh hoạt triển khai. Công tác phát triển Đảng thực hiện tốt, đã kết nạp 10 đảng viên mới trong 1 năm.

Hoạt động văn hóa văn nghệ duy trì đều. Vào các ngày lễ, tết, tổ chức biểu diễn văn nghệ phục vụ thương bệnh binh . Các khoa tham gia sôi nổi khi Viện tổ chức hội diễn văn nghệ, kết hợp với các đơn vị kết nghĩa, như Thương nghiệp Tân Bình. Một số đơn vị kết nghĩa khác đến tận giường bệnh, đưa lời ca tiếng hát phục vụ động viên anh em vượt qua bệnh tật, sớm lành vết thương để trở về với đồng đội hoặc với đời thường, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: tàn mà không phế. Thời kỳ này, hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao mạnh nhất, rôm rã nhất, trong đó vai trò nòng cốt là đoàn thanh niên. Ngoài ra, môn bóng đá, bóng chuyền cũng phát triển - đối với bộ đội, đây là món ăn tinh thần chủ yếu.

Hoạt động đoàn thanh niên sôi nổi, hào hứng, vì hầu hết họ ở tập thể. Mặt khác các chi bộ thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo đoàn hoạt động, hướng các mặt vào công tác điều trị. Hằng tuần, đoàn thanh niên tổ chức ngày lao động xã hội chủ nghĩa. Đoàn tiếp xúc gắn bó với thương binh; gội đầu, cắt móng tay, tắm rửa cho thương binh. Nơi nào có chi bộ, nơi đó có sự hoạt động sôi nổi của đoàn.

Công tác hậu cần: thường xuyên đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên, thương bệnh binh, nhất là đối với thương binh. Ban Hậu cần đã có nhiều cố gắng như làm được con đường nhựa, phân phối đất đai nhà cửa cho cán bộ, nhân viên,… tạo điều kiện để họ yên tâm công tác phục vụ lâu dài trong quân đội. Kinh tế đất nước vẫn rất khó khăn, vì vậy, hậu cần phải lo từng bữa ăn cho thương bệnh binh, phải nhận thực phẩm ở cửa hàng thương nghiệp về phân phối cấp phát, bảo đảm công bằng và tránh hao hụt.

Công tác kết nghĩa: Mở đầu phong trào kết nghĩa giữa Viện 115 với các đơn vị bạn là: Nhà máy dệt Long An, Nhà máy đường Khánh Hội; Uy ban huyện Đức Hòa, Đức Huệ (Long An); Hội phụ nữ Quận 10; Công ty thương nghiệp tổng hợp Quận Tân Bình. Các đơn vị kết nghĩa rất quan tâm đến Bệnh viện. Các ngày lễ, tết, ngày truyền thống, Viện mời các đơn vị đến động viên tinh thần, giúp đỡ vật chất, như Nhà máy dệt Long An cho quần áo; Nhà máy đường Khánh Hội cho đường; Công ty thương nghiệp tổng hợp Quận Tân Bình đưa đội văn nghệ đến động viên tinh thần… hai huyện Đức Hòa, Đức Huệ, mang cả trâu bò đến ủng hộ. Thấy được sự vất vả của Viện cũng như sự hy sinh xương máu của anh em thương bệnh binh trong thời kỳ chiến tranh Campuchia, vì thế các đơn vị giúp đỡ vật chất, tinh thần một cách nhiệt tình, vô tư. Các ngày 27/7, 22/12, các đơn vị đều cử đoàn đến thăm và ở lại hai, ba ngày. Đoàn đi thăm thương binh từng khoa, động viên, biểu diễn văn nghệ. Những hành động ấy là sự động viên to lớn, kịp thời đối với thương binh, giúp họ vượt qua cơn đau thể xác và tinh thần, khi mà đất nước đã bình yên nhưng người lính vẫn phải làm nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Bệnh viện Nhân Dân 115


Do tình hình chính trị - xã hội của đất nước đã ổn định, chiến tranh không còn; lực lượng quân đội nói chung và quân y nói riêng phải được xây dựng phù hợp với yêu cầu mới, đáp ứng công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối với Viện Quân y 115 khi trực thuộc Cục Quân y (1982-1984), mọi báo cáo đều phải gửi trực tiếp ra Hà Nội. Vì vậy, công tác chỉ đạo gặp nhiều khó khăn, không kịp thời.
Trong bối cảnh đó, ngày 14 tháng 12 năm 1984, Bộ quyết định giao Viện Quân y 115 cho Quân khu 7 - trực thuộc Cục Hậu cần QK, nhằm tạo thuận lợi cho công tác chỉ đạo của cấp trên và báo cáo của cấp dưới.

Thời kỳ này bệnh binh ít, thương binh không còn. Một số nhân viên quê ở miền Bắc, người ta cảm thấy mệt mỏi sau chiến tranh, đời sống bế tắc. Vì vậy, một số anh em giải ngũ hoặc chuyển ngành, nhưng đa số là giải ngũ. Bệnh viện đã tiến hành giám định thương tật cho thương binh. Trong công tác giám định, lãnh đạo Viện phải cân nhắc, đảm bảo vừa hợp lý vừa hợp tình. Vì anh em thương binh nói: Các chú cho các cháu loại nào cũng được, nhưng chân các cháu thế này thì làm sao mà làm ruộng được.

Biên chế của Viện khoảng 250 người, tỷ lệ phục vụ là 1/1.
Bệnh viện Nhân Dân 115


Ngày 25 tháng 3 năm 1985, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 488/QP chuyển Cơ sở 2 thành Phân hiệu Học viện Quân y ở phía Nam. Cùng với quyết định trên, có quyết định của Bộ Tổng Tham mưu số 87/QĐ-TM ngày 25-3-1985 do Phó Tổng Tham mưu trưởng Thiếu tướng Đỗ Văn Đức ký chuyển Viện QY 115 thuộc Quân khu 7 về trực thuộc Phân hiệu Học viện QY, lam bệnh viện thực hành của Phân hiệu. Đến tháng 7-1985 Phân hiệu mới chính thức tiếp nhận VQY 115.

Viện QY 115 trở thành bệnh viện thực hành của Phân hiệu nên được cũng cố về mọi mặt bằng cách tăng cường cán bộ, bổ sung thêm người trong Ban Chỉ huy Viện: Đại ta, phó giáo sư bác sỹ Vũ Huy Thành giữ chức Viện trưởng; Trung ta, bác sĩ Phan Thế Nghiệp, Phó viện trưởng; Trung tá Huỳnh Lang, Phó viện trưởng về chính trị . Các chủ nhiệm bộ môn và giáo viên đều được phân công kiêm nhiệm chủ nhiệm hầu hết các khoa ở Viện Quân y 115.
Từ đây, Viện Quân y 115 có 3 nhiệm vụ cụ thể: điều trị, huấn luyện và nghiên cứu khoa học. Trên từng nhiệm vụ bệnh viện đều có những trưởng thành nhất định. Về chuyên môn và nghiên cứu khoa học đã áp dụng những phương pháp kỹ thuật tiên tiến để rúy ngắn thời gian điều trị, giảm tỷ lệ tàn phế cho thương binh như phương pháp cắt cụt theo kỹ thuật Weiss, tạo một mõm cụt tốt, hoạt động khoẻ khi lắp chi giả, được Trung tâm phục hồi chức năng nghiên cứu chứng minh và khuyến cáo nên làm hay áp dụng những phương pháp xử trí có kết quả tốt đối với những trường hợp bị viêm xương tuỷ mãn tính do vết thương gãy xương đã mổ đi mổ laị 5-7-10 lần chưa khỏi. Nhờ vậy mà số lượng thương binh được lành vết thương sớm, chuyển về các đoàn an dưỡng. Trong công tác huấn luyện lâm sàng cũng được tốt hơn vì chủ nhiệm bộ môn đồng thời cũng là chủ nhiệm khoa.

Tình hình trong nước và biên giới ngày càng ổn định, số lượng thương bệnh binh ra viện nhiều hơn vào nên số giường trống ngày càng nhiều, tỷ lệ sử dụng giường rất thấp, cộng với việc trang thiết bị ngày càng xuống cấp nên ảnh hưởng rất nhiều đến nhiệm vụ của một bệnh viện thực hành.

Đứng trước thực tế ấy, Chỉ huy Phân hiệu và viện 115 bàn bạc với Sở Y tế TP Hồ Chí Minh thống nhất liên kết với nhau thành lập bệnh viện quân dân y kết hợp trên cơ sở danh nghĩa của Viện QY 115, làm nhiệm vụ cơ sở thực hành cho các lớp ở Phân hiệu, điều trị thương bệnh binh đồng thời nhận khám và điều trị 200 giường cho nhân dân chủ yếu ở Quận 10 và Tân Bình. Kinh phí khám và điều trị cho nhân dân do Sở Y tế đầu tư. Mô hình này được áp dụng có hiệu quả, số lượng bệnh nhân nằm viện ngày càng tăng, mặt bệnh đa dạng đã đáp ứng tốt cho học tập lâm sàng. Kinh nghiệm được rút ra đã đăng trong tạp chí "Quốc phòng toàn dân" số 11-1989 với bài "Bệnh viện quân dân y kết hợp, một phương thức tháo gỡ khó khăn có hiệu quả" của Đại tá Phan Thế Nghiệp.

Để khắc phục cơ sở vật chất ngày càng xuống cấp trong điều kiện kinh phí được cấp rất ít nên Viện đã liên kết một số cơ sở dân sự ở TP như Công ty Seaprodex, Cảng Sài Gòn, Nhà máy đường Khánh Hội, Nông trường Cây Trường v.v… để giúp đỡ xây dựng cũng cố nhiều phòng bệnh khang trang, trang bị sinh hoạt đầy đủ (TV, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ), thay đổi toàn bộ màn xô bằng màn lưới (nhà máy dệt kim Đông Phương), nệm bông lót giường được thay bằng nệm mút (Công ty Cao su), xây một cơ sở bán thuốc tây y phục vụ cho bệnh viện (UBND quận Tân Bình), do đó bộ mặt của bệnh viện ngày càng được đổi mới.

Tháng 01-1987, thành phần của chỉ huy Viện có sự thay đổi:

* Đại tá phó giáo sư Vũ Huy Thành trở về Phân hiệu làm nhiệm vụ Chỉ huy trưởng thay đại tá,phó giáo sư Bùi Thế Sinh (nghỉ bệnh)
* Trung tá bác sỹ Phan Thế Nghiệp, Phó chỉ huy trưởng Phân hiệu phụ trách Viện Quân y 115 thay bác sỹ Vũ Huy Thành.
* Trung tá, bác sỹ Nguyễn Quốc Bình, Chủ nhiệm Bộ môn-Khoa Ngoại 2 được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện Quân y 115 và đến tháng 7 năm 1987 được bổ nhiệm thêm chức vụ Phó chỉ huy trưởng Phân hiệu. Cuối năm 1987, Đại tá bác sỹ Nguyễn Quốc Bình được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Quân y 115. Trung tá bác sỹ Nguyễn Công Rực được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện Quân y 115 kiêm phụ trách y vụ.

Đối với các khoa, ban, cơ bản chưa có gì thay đổi so với trước lúc chuyển Viện QY 115 trực thuộc Phân hiệu, nhưng về nhân sự Ban chỉ huy Viện và chủ nhiệm khoa có nhiều thay đổi do cán bộ của Phân hiệu được cử sang phụ trách:

* Bác sỹ Phan Văn Nghiệp, Chủ nhiệm Khoa Ngoại I (thay bác sỹ Ngô Thanh Chơn)
* Bác sỹ Nguyễn Quốc Bình, Chủ nhiệm Khoa Ngoại II (thay bác sỹ Hoàng Văn Hoà), khi có quyết định bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện 115 thì bác sỹ Nguyễn Ngọc Thạch thay làm chủ nhiệm khoa vào đầu năm 1987.
* Bác sỹ Trần Hữu Qúy, Chủ nhiệm Khoa Tim mạch (thay bác sỹ Trần Đức Trung)
* Bác sỹ Trần Bình, Chủ nhiệm Khoa Xét nghiệm (thay bác sỹ Tôn Nữ Trung Thu)
* Bác sỹ Trương Như Nguyện, Chủ nhiệm Phòng Khám bệnh

Bản đồ đường đi
Khuyến mãi mọi nhàhợp tác